Hiểu Đạo & Sống Đạo

 

Tại Sao Không Được Phép Cử Hành Hôn Nhân Đồng Tính?

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 

Hỏi: Xin cha giải thích Giáo Hội có cho phép cử hành hôn nhân giữa hai người nam hoặc hai người nữ không?

 

Trả lời: Trước khi trả lời câu hỏi đặt ra trên đây, thiết nghĩ nên biết qua về mục đích của hôn nhân trong Giáo Hội Công Giáo.

 

Khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đă tạo dựng người nam và người nữ đầu tiên và Ngài đă truyền cho họ: "hăy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất." (St 1:28)

 

Đây là nền tảng và mục đích của hôn nhân trong chương tŕnh sáng tạo của Thiên Chúa. Như thế, con người được vinh hạnh cộng tác với Thiên Chúa trong chương tŕnh sáng tạo của Ngài, nghĩa là tham gia vào công tŕnh làm cho có thêm nhiều người "mang h́nh ảnh" của Thiên Chúa trong trần thế này cho đến cuối thời gian. Hôn nhân từ thời Cựu Ước đến Tân Ước, trước hết, đều có mục đích diễn tả cách bóng bẩy t́nh yêu sâu đậm của Thiên Chúa đối với con người.

 

Trong Cựu Ước, hôn nhân là giao ước t́nh yêu giữa Thiên Chúa và Israel, tức Dân riêng được tuyển chọn của Ngài:

"V́ ngươi sẽ được Đức Chúa đem ḷng sủng ái,
Và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở người
Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ
Đấng tạo tác ngươi sẽ cưới ngươi về
Như cô dâu là niềm vui cho chú rể
Ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ."
(Is 62: 4-5)

Thiên Chúa "kết hôn" với dân của Ngài trong ư nghĩa thâm sâu nói lên t́nh yêu vô biên mà Ngài đă dành cho họ, nhưng họ có bổn phận phải đáp trả bằng cách tuân giữ những thánh chỉ của Ngài để được chúc phúc và sống muôn đời. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu cũng "kết duyên" với toàn thể nhân loại được cứu chuộc bằng giá máu của Người đă đổ ra trên thập giá để mang về cho Thiên Chúa một dân mới và chuẩn bị cho "hôn lễ và tiệc cưới của Con Chiên và Hiền Thê của Người" tức là hôn ước giữa Chúa Kitô với nhân loại quy tụ trong Giáo Hội, được ví như người vợ yêu qúy của Người. (Kh 19:7-9)

 

Trong ư nghĩa rất thâm sâu đó, hôn nhân quả thật là một ơn gọi (vacation) cao quư qua đó Thiên Chúa mời gọi hai người nam nữ kết hôn để "thiết lập giữa họ một giao uớc trọn đời nhằm mưu lợi ích cho người kết hôn, cho việc sinh sản con cái và giáo dục chúng. Giao ước này, thiết lập giữa những người đă lănh nhận phép rửa tội, đă được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích" (x. SGLGHCG, số 1601).

 

Như thế, hôn nhân có mục đích và ư nghĩa cao cả trong chương tŕnh sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa mà con người được mọi gọi tham gia và cộng tác.

 

Nói khác đi, hôn nhân giữa hai người nam và nữ tượng trưng cho giao uớc t́nh yêu và bổn phận giữa Thiên Chúa và toàn thể nhân loại. Thiên Chúa, v́ yêu thương vô vị lợi, đă tạo dựng con người và "muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư" (1 Tm 2) nhưng con người cũng được mong đợi đáp trả t́nh yêu của Thiên Chúa bằng cách sống theo đường lối của Ngài để được sống hạnh phúc đời đời.

 

Đối với những ai được mời gọi kết hôn, th́ sống theo đường lối của Chúa có nghĩa là chu toàn những trách nhiệm và mục đích của hôn nhân, mà trọng tâm là nêu cao giá trị của đời sống gia đ́nh và t́nh yêu phu phụ tương trưng cho t́nh yêu thắm thiết và bền vững giữa Thiên Chúa và loài người.

 

Thật vậy, khi kết hôn thật sự và thành sự, hai người phối ngẫu được lănh nhận ân sủng riêng của bí tích để kiện toàn t́nh yêu của họ và để giúp họ "nên thánh trong cuộc sống vợ chồng, trong việc đón nhân và giáo dục con cái nên thánh" (x. Lumen Gentium 11).

 

Mặt khác, qua việc kết hôn, hai người phối ngẫu bắt đâu xây dựng đời sống gia đ́nh, từ đó phát sinh những công dân mới cho xă hội và tăng số con cái cho Giáo Hội nhờ phép rửa.

 

V́ thế, gia đ́nh được ví như một xă hội nhỏ, thu hẹp "một Giáo Hội tại gia" (domestic church). Chính v́ muôn nhấn mạnh và đề cao vai tṛ của gia đ́nh mà Chúa Giêsu đă chọn sinh ra trong một gia đ́nh có cha mẹ loài người là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ thật của Chúa và Thánh Cả Giuse, nguời Cha nuôi (Foster Father) trong Thánh Gia thất xưa.

 

Như vậy, hôn nhân phải là hành động nhân linh xẩy ra giữa một người nam và một người nữ đúng theo Ư định của Thiên Chúa khi tạo dựng Adam và Eva, là đôi hôn phối đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Nghiă là từ đầu, hôn phối không hề dành cho hai người cùng phái tính (same sex) v́ nó đi ngược lại hoàn toàn với mục đích và bổn phận của hôn nhân trong kế hoạch của Thiên Chúa. Do đó, ai cho phép việc kết hôn đồng tính (same sex marriage) th́ đă hành động chống lại chính Thiên Chúa là Tác giả của luật hôn nhân và cũng phá hủy tận gốc rễ nền tảng và mục đích hôn nhân trong xă hội loài người. Chắc chắn như vậy.

 

Nói thế không có nghĩa là lên án những người có khuynh hướng đồng tính luyến ái (lesbian or homosexual tendency). Nhưng cần phân biệt giữa khuynh hướng tự nhiên về đồng tính và hành vi đồng tính.

 

Một người được sinh ra với khuynh hướng tự nhiên (natural tendency) hướng chiều về đồng tính (homosexuality) th́ đây không phải là lỗi của họ, nghiă là họ không có tội v́ có khuynh hướng tự nhiên này. Họ cần được giáo dục, giúp đỡ và thông cảm để vượt thắng khuynh hướng bất b́nh thường (abnormal) này.

 

Chỉ những ai cố ư muốn thực hành những hành vi đồng phái tính (lesbian or homosexual acts) mới có tội mà thôi, v́ những hành vi này là "những hành vi thác loạn tự bản chất (intrinsically disordered) nghich với luật tự nhiên v́ chúng ngăn cản hành vi tính dục đưa đến đón nhận quà tặng sự sống." (x. SGLGHCG, số 2357).

 

Cụ thể, hai người đồng tính không thể sinh sản con cái và xây dựng nếp sống gia đ́nh cách đúng nghĩa được. Mọi hành vi luyến ái của họ đều sai trái nghiêm trọng về luân lư, trái tự nhiên, và không giúp chu toàn mục đích của đời sống hôn nhân. Cho phép việc này chỉ là công nhận và chiều theo đ̣i hỏi của một thiểu số người bệnh hoạn về tâm sinh lư mà thôi. Hơn thế nữa, việc kết hôn của họ chỉ làm đảo lộn mục đích hôn phối mà Thiên Chúa đă thiết lập từ đầu và Giáo Hội có trách nhiệm nghiêm chỉnh thi hành và bảo vệ.

 

Tóm lại, không khi nào Giáo Hội công nhân và cho phép sự thành hôn giữa hai người cùng phái tính. Đây là sự suy thoái đạo đức của thời đại, sự lẫn lộn về trật tự và giá trị luân lư với tự do và sở thích cá nhân của thời đại trống vắng niềm tin này.

 

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 

* * * * *   * * * * *