Đức Mẹ Hiện Ra Tại Kibeho, Rwanda, Phi Châu Năm 1981

 

Nước Cộng Ḥa Rwanda có dân số khoảng 5 triệu, gồm ba sắc dân chính: Hutus, Tutsis và Twas. Trong quá khứ, dân Tutsis chỉ có 14 phần trăm dân số nhưng thống trị sắc dân Hutus gồm 85 phần trăm dân số. Con cháu dân Hutus luôn nuôi ḷng hận thù dân Tutsis và thường xảy ra xung đột chủng tộc tại đây. Khoảng một nửa dân số Rwanda theo Thiên Chúa Giáo, trong đó 52% là Công Giáo.

 

Kibeho là một làng có nhà thờ và trường trung học do các nữ tu ḍng bác ái Benebikira trông coi. Kibeho thuộc tổng giáo phận Butare.

 

Thứ Bảy, 28 tháng 11 năm 1981, các nữ sinh đang ăn trưa. Hôm đó Alphonsine Mumureke, 17 tuổi, một trong các nữ sinh, trực nhật. Nhiều lần trong ngày cô nghe tiếng gọi êm ái: "Con của Mẹ, con của Mẹ." Cô cho biết cô hết sức sung sướng, nhưng pha lẫn với sợ hăi.

 

Tiếng gọi đó phát ra từ hành lang kế bên. Alphongsine do dự một lát. Rồi lại nghe tiếng gọi, cô đi vào hành lang đó, quỳ gối, làm dấu thánh giá.

 

Đức Mẹ nói:

- "Mẹ đây."

 

Lúc đó một "Bà Sáng Láng" hiện ra trước mặt cô, và cuộc đàm thoại lạ lùng bắt đầu.

 

Alphongsine hỏi:

- "Thưa Bà, Bà là ai?"

Bà Sáng Láng đáp:

- "Mẹ là Mẹ Ngôi Lời."

Đức Mẹ hỏi:

- "Con muốn ǵ ở đức tin?"

Alphonsine đáp:

- "Con yêu mến Thiên Chúa và Thánh Mẫu của Chúa, Người cho chúng con Con của Người là Đấng cứu độ chúng con!"

Đức Mẹ nói:

- "Chính v́ thế Mẹ đến để bảo đảm với con, v́ Mẹ đă nghe lời con cầu nguyện. Mẹ muốn các bạn của con có đức tin vững vàng hơn, v́ những người đó không tin đủ."

Alphonsine đáp:

- "Lạy Mẹ Chúa Cứu Thế! Nếu đích thực là Mẹ, chính Mẹ đến cho biết rằng trường chúng con có ít đức tin, chính v́ Mẹ yêu thương chúng con! Con thực sự vui mừng v́ Mẹ đến với con."

 

Tới đây Đức Mẹ mỉm cười và biến đi.

 

Alphonsine nói với các bạn về sự việc xảy ra, nhưng các bạn của cô không tin và c̣n cười nhạo cô. Alphonsine vẫn kiên cường với ơn gọi. Về sau, một vài bạn đồng lớp cùng cầu nguyện với Alphonsine, nhưng các cô đó không được thấy Đức Mẹ. Theo lời các bạn, Alphonsine xin Đức Mẹ cho các bạn của cô được thấy Đức Mẹ.

 

Ngày 22 tháng 1 năm 1982, Anathalie Mukamazimpaka thấy Đức Mẹ và cũng xuất thần như Alphonsine.

 

Tin chấn động loan truyền khắp làng Kibeho. Các em được thị kiến bị bà Marie-Claire Mukangango, phụ tá đức cha Gahamanyi, giám mục tổng giáo phận Butare phản đối. Nhưng vào ngày 2 tháng 3, 1982, chính bà Marie-Claire cũng được thị kiến Đức Mẹ.

 

Đến tháng 7 năm 1982, hai chú bé Sagatshaya, lúc đó chưa là Kitô hữu Công Giáo, và chú bé Valentine, thêm bốn cô gái khác là Agnes, Vestine, Stephanie, và một cô nữa cũng tên Agnes, được thấy Đức Mẹ. Có tất cả tám người chính thức được thấy Đức Mẹ hiện ra, và có khoảng 20 người khác tại Kibeho và 10 người ở những nơi khác cũng nói là họ được thị kiến Đức Mẹ.

 

Những lần đầu, Đức Mẹ hiện ra tại pḥng ngủ của các lưu trú sinh tại nhà trường. Về sau số người tham dự cầu nguyện và theo dơi Đức Mẹ hiện ra đông thêm, pḥng ngủ đă được nới rộng (bỏ bớt vách ngăn) thành một nhà nguyện nhỏ. Nhưng rồi cũng không đủ chỗ, và các người được thị kiến đón Đức Mẹ ở phía ngoài nhà nguyện. Theo ư kiến của một nam tu sĩ, người ta làm một khán đài cao, các người được thị kiến cầu nguyện và đón Đức Mẹ tại đó, và những người từ xa có thể nh́n thấy họ. Các em được thị kiến thường nhắc lại ngay những lời Đức Mẹ nói với các em. Đức Mẹ cũng cho biết trước khi nào Đức Mẹ sẽ đến vào lần kế tiếp. Số người tham dự ngày càng đông, nên người ta thiết trí hệ thống loa phóng thanh khắp khu vực rất rộng, và các em được thị kiến đeo microphone, để người khác có thể trực tiếp nghe những đối thoại trong những lần Đức Mẹ hiện ra.

 

Đề tài chính các lời Đức Mẹ là:

* Người ta không chú ư đủ đến những sự trên trời; 

* Những chân lư mạc khải trong Phúc Âm bị coi là lỗi thời và người ta bỏ lơ;

* Người ta hững hờ với những cảnh cáo kinh hoàng ngày tận thế được nói trong Phúc Âm, người ta không chuẩn bị hoặc không thấy cần phải nhớ đến sự thánh thiện;

* Người ta coi thường các lời Mẹ.

 

Khách hành hương, cảnh sát, viên chức chính quyền, các linh mục, tu sĩ đều quan sát những hiện tượng lạ mặt trời một đôi lần xuất hiện tại đây.

 

Vùng Kibeho bị hạn hán, nhưng các em được thị kiến không xin Đức Mẹ cho mưa. Một hôm trong tháng 8, 1981, Đức Mẹ hỏi Anathalie:

- "Tại sao các con không xin Mẹ ban nước (mưa) cho các con?"

Cô bé đáp:

- "Đức Mẹ nói Đức Mẹ sẽ cho theo ư Đức Mẹ và khi nào Đức Mẹ muốn!"

Đức Mẹ nói:

- "Bây giờ Mẹ ban cho các con cơn mưa thánh hiến."

 

Ngay sau đó, một trận băo kéo tới, và mưa như trút đổ xuống. Nhưng không ai chạy núp mưa. Mọi người quỳ giữa trời mưa như thác lũ, giữa những đám bùn mới, ca tụng "những giọt mưa từ trời."  Người ta hứng được nước mưa, và Đức Mẹ ban nhiều phép lạ chữa lành bệnh qua nước mưa này.

 

Trong số các thông điệp Đức Mẹ ban tại Kibeho, có nhiều thông điệp mang tính cách cảnh cáo những ác họa rùng rợn. Những người được thị kiến ở Kibeho nhận được các thông điệp đặc biệt này khi họ xuất thần hoặc nằm dài bất động, như chết, suốt hai hoặc ba ngày đêm. Thoạt tiên, người ta nghĩ các người được thị kiến trong hiện tượng này chết rồi, nhưng khám nghiệm y khoa th́ cơ thể họ vẫn b́nh thường. Người ta không thể nào làm cho những người này ra khỏi t́nh trạng xuất thần. Trong thời gian dài xuất thần này, những người được thị kiến trải qua những "chuyến đi", "những cảnh hăi hùng," "sự buồn phiền của Chúa Giêsu," và "ngày tận thế."

 

Ngày 15 tháng 8 năm 1982, sau khi năm người được thị kiến ra khỏi xuất thần, tất cả đều run rẩy sợ hăi, nước mắt đầm đ́a. Cả năm người đều nói đă được cho thấy một đại cảnh "những trận lụt máu," "vô số xác chết không được mai táng," "những đám cháy rừng," "những hố sâu lớn," "ma quỷ xuất hiện," đầu người ta bị chặt vương văi khắp nơi." Khoảng 25 ngàn khách hành hương hiện diện đă rụng rời kinh hăi khi nghe những tường thuật này. Và những thị kiến đại họa này xảy ra nhiều lần.

 

Điểm đặc biệt là Đức Mẹ bảo các người được thị kiến phải rời khỏi Rwanda.

 

T́nh h́nh xáo trộn tại Rwanda từ 1982 đến nay (1997) chứng minh những điều Đức Mẹ đă báo. Chiến tranh sắc tộc, những vụ tàn sát đẫm máu, trả thù, diệt chủng, đói khát, xảy ra giữa sắc dân Hutu và Tutsis kinh hoàng đến độ một nửa dân số bị chết.

 

 

* * * * *   * * * * *